top of page

Tìm kiếm trên trang web này

Tìm thấy 117 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • ÁP DỤNG BỘ CÔNG CỤ SMART NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VƯỜN QUỐC GIA TÀ ĐÙNG

    Vườn quốc gia Tà Đùng được thành lập trên cơ sở chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng theo Quyết định số 185/QĐ-TTg ngày 08/02/2018 của Thủ Tướng Chính phủ. Với tổng diện tích tự nhiên hơn 20.000 ha, nằm trong khu vực Tây Nguyên, đặc trưng bởi kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, đây là nơi có nhiều hệ sinh thái của vùng Cao nguyên với giá trị đa dạng sinh học cao, bao gồm nhiều loài động, thực vật quý, hiếm có tên trong Danh lục đỏ IUCN và Sách Đỏ Việt Nam. Là một trong những khu vực ưu tiên bảo tồn cao, Vườn quốc gia (VQG) Tà Đùng đã và đang thực hiện, triển khai rất nhiều các chương trình, dự án nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Trong đó, việc nâng cao năng lực cho lực lượng cán bộ kỹ thuật, cán bộ Kiểm lâm luôn được VQG chú trọng và thực hiện thường xuyên. Nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ và nâng cao hiệu quả của các hoạt động bảo tồn, tháng 6 năm 2024 vừa qua, VQG Tà Đùng đã phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) tổ chức chương trình “ Tập huấn quản lý dữ liệu và báo cáo tuần tra bằng bộ công cụ SMART” cho hơn 30 cán bộ thuộc các phòng, ban và cán bộ Kiểm lâm của 5 Trạm Kiểm lâm, tổ cơ động. Tại lớp tập huấn, các học viên đã được giới thiệu, thực hành chi tiết về Bộ công cụ Quản lý dữ liệu và Báo cáo tuần tra (SMART), các quy trình, kỹ năng xây dựng các mô hình dữ liệu, thiết lập các hoạt động tuần tra; xây dựng quy trình thu thập thông tin; nhập liệu và quản lý dữ liệu, xây dựng báo cáo tổng hợp. Học viên đã trực tiếp thực hành các quy trình vận hành của SMART Desktop và SMART Mobile, áp dụng với thực tế của địa phương và đơn vị để hoàn thiện bộ công cụ chuẩn phục vụ công tác tuần tra, quản lý, điều tra, giám sát đa dạng sinh học.  Từ trái sang phải: Hình 1: Các học viên lớp tập huấn (©CCD/2024) Hình 2: Các học viên thực hành thu thập thông tin trên SMART Mobile (©CCD/2024) Hình 3. Các học viên thực hành trên phần mềm SMART Deskop (@CCD/2024) Trong thời gian tiếp theo, CCD sẽ tiếp tục phối hợp với VQG Tà Đùng để hỗ trợ cập nhật mô hình, sửa lỗi, hoàn thiện các bộ phiếu thu thập thông tin và các mẫu báo cáo từ hệ thống SMART. CCD cũng đã và đang hỗ trợ nhiều Vườn quốc gia và Khu bảo tồn, ban quản lý Rừng Phòng hộ trong cả nước xây dựng và chuẩn hóa các hệ thống quản lý theo công cụ SMART nhằm nâng cao tính chính xác và hiệu quả trong các hoạt động quản lý, tuần tra, bảo vệ rừng, giám sát rừng và bảo tồn đa dạng sinh học bền vững.

  • GIẢI CỨU SAO LA KHỎI BỜ VỰC TUYỆT CHỦNG

    Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) được các nhà khoa học phát hiện lần đầu tiên vào năm 1992 tại Việt Nam, và được là một trong các phát hiện về thú lớn quan trọng của thế kỷ XX. Tuy nhiên, đây cũng là loài thú lớn được biết đến ít nhất do chúng có quần thể nhỏ, phân bố hẹp ở khu vực Bắc và Trung Trường Sơn của Việt Nam và Nam Lào. Thêm vào đó, săn, bẫy và mất rừng là nguyên nhân quan trọng nhất làm loài thú móng guốc này bị suy giảm quần thể một cách nghiêm trọng. Do đó, từ năm 1995 cho tới nay, rất ít các cá thể sao la được ghi nhận ngoài tự nhiên, mặc dù nhiều nỗ lực nghiên cứu đã được thực hiện trên tất cả các vùng phân bố của chúng. Nhiều kế hoạch bảo tồn tích cực cho saola đã được dự kiến, tuy nhiên ưu tiên cao nhất vẫn dành cho việc đánh giá được một cách chính xác quần thể sao la hiện tại và nơi phân bố chính của chúng, từ đó sẽ đưa ra các kế hoạch bảo tồn mạnh mẽ và phù hợp nhất. Hình 1. Nhóm đặt bẫy ảnh trên hiện trường (©CCD/2024) Với mục đích nghiên cứu sâu hơn để hiểu và có những biện pháp bảo tồn quyết liệt cho loài động vật đặc biệt quý hiếm này, Dự án “Giải cứu sao la khỏi bờ vực tuyệt chủng” do Liên minh châu Âu (EU) tài trợ thông qua Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam (WWF-Việt Nam) đã được ưu tiên thực hiện tại các khu vực được đánh giá là vùng phân bố chính cũng như nơi có tiềm năng ghi nhận sao la. Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển là một trong các đối tác tham gia thực hiện dự án, tập trung vào các hoạt động tìm kiếm saola trên thực địa. (từ trái sang phải)Hình 2. Thu mẫu nướcHình 3. Thu mẫu VắtHình 4. Đặt máy bẫy ảnh(©CCD/2024) Trong thời gian 8 tháng của năm 2023-2024, nhóm chuyên gia của CCD đã thực hiện 3 đợt điều tra sao la ở 3 các khu vực ưu tiên vùng Bắc Trường Sơn với tổng 1.700 giờ nghiên cứu trên thực địa và hơn 691.200 giờ điều tra bằng máy bẫy ảnh trên hiện trường, nhóm cũng thu nhiều mẫu eDNA và mẫu nghiên cứu khác để phân tích nhằm bổ trợ cho việc xác định sự tồn tại của sao la ở các khu vực nghiên cứu. CCD tiếp tục các chương trình bảo tồn dài hạn đối với các loài động, thực vật và các vùng sinh cảnh bị đe dọa trong cả nước cũng như khu vực Đông Dương. Để thực hiện hiệu quả các nỗ lực đó, CCD sẽ tích cực mở rộng các hoạt động hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước và các địa phương nhằm bảo tồn, phục hồi hiệu quả thiên nhiên và các loài động, thực vật hoang dã.

  • BẢO TỒN CÁC LOÀI CHIM HOANG DÃ VÀ CÁC SINH CẢNH TỰ NHIÊN Ở VÙNG BÃI SÔNG HỒNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Khu vực các bãi bồi, bãi giữa trên sông Hồng thuộc địa giới hành chính của thành phố Hà Nội có thể được xem là một trong các vùng sinh cảnh tự nhiên quan trọng nhất vùng đồng bằng sông Hồng. Dọc theo các vùng bãi bồi và các cồn, bãi giữa trên sông là các các chòm cây gỗ, vùng cỏ lau, sậy, và các rạch, lạch nước ven sông và ở các cồn trên sông tạo ra sự đa dạng về sinh cảnh trở thành vùng sống, nơi kiếm ăn và trú đông quan trọng của các loài định cư và các loài chim di cư trên tuyến đường bay Đông Á-Úc Châu. (từ trái qua phải)Hình 1: Bãi Phú Cường, huyện Ba Vì một trong các bãi giữa còn tính nguyên vẹn và cũng là nơi sống, nơi trú đông của nhiều loài chim nguy cấpHình 2: Vùng sinh cảnh lau, sậy tự nhiên trên bãi Phú Cường - Tản Hồng(©CCD/2024) Từ năm 2021 đến 2024, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp với các đối tác thực hiện nhiều các hoạt động điều tra về thành phần loài, các đe dọa tới quần thể và sinh cảnh của chim hoang dã ở dọc theo các bãi, các cồn trên sông Hồng nhằm tìm hiểu và xác định các cơ hội bảo tồn và vùng sống của chúng. Ít nhất 232 loài chim, trong đó có 192 loài di cư, bao gồm cả các loài nguy cấp và cực kỳ nguy cấp đã được ghi nhận ở các bãi và cồn trên dọc sông đã khẳng định tầm quan trọng của các bãi ven và trên sông Hồng như một vùng chim quan trọng ở các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu, giám sát chim đã thực hiện cũng ghi nhận nhiều mối đe dọa mà các loài chim hoang dã đang gặp phải đó là các hoạt động săn, bẫy bắt chim vẫn diễn ra phố biến, đặc biệt là các hình thức giăng lưới mờ và dùng âm thanh dụ chim đến các điểm bẫy để bắt, đặc biệt vào mùa chim di cư (từ tháng 9 đến tháng 4 hàng năm). Thêm vào đó, việc xâm canh, và phá hủy các trảng cỏ, vùng lau, sậy để trồng các loài cây ăn quả như chuối, táo, ổi, và các cây hoa màu khác cũng làm suy giảm nghiêm trọng sinh cảnh tự nhiên của chim hoang dã cũng như các loài động, thực vật khác. (từ trái qua phải)Hình 3: Lưới mờ giăng ở các vực nước để bắt chim vào mùa di cư trên các bãiHình 4: Loài Cực kỳ nguy cấp sẻ đồng ngực vàng (Emberiza aureola) bị chết do mắc lướiHình 5: Rất nhiều lưới và chim bị chết trong lưới bắt chim vào mùa di cưHình 6: Nhóm giám sát tại bãi Phú Cường, huyện Ba Vì(©CCD/2024) CCD đã và đang phối hợp và hỗ trợ với chi cục Kiểm lâm Hà Nội, và nhiều đối tác thực hiện các hoạt động giám sát và tuyên truyền bảo vệ chim hoang dã và sinh cảnh tự nhiên vùng bãi sông Hồng và các vùng rừng tự nhiên khác ở thành phố Hà Nội. Trong các nỗ lực tăng cường các biện pháp bảo vệ đó gồm có đề xuất Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội lập khu bảo tồn chim hoang dã và các khu công viên thiên nhiên ở các vũng bãi, và cồn lớn trên sông nhằm tăng điện tích bảo tồn, tăng diện tích xanh cho thành phố, thúc đẩy các hoạt động giáo dục cho học sinh và các hoạt động trải nghiệm thiên nhiên, môi trường xanh cho công dân, và du khách của thủ đô. (từ trái qua phải)Hình 7: Diều mướp (Circus melanoleucos) - một loài chim ăn thịt di cư ở vùng bãi sông HồngHình 8: Mai Hoa (Amandava amandava) một loài chim đẹp, loài định cư của Việt Nam, được phát hiện tại vùng bãi sông HồngHình 9: Chim cút vằn - ( Turnix suscitator) Hình 10: Hạc đen (Ciconia nigra) loài di cư hiện chỉ ghi nhận được ở vùng bãi sông Hồng(©CCD/2024)

  • Bảo tồn Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) tại Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

    Dự án “Bảo tồn loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) tại Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh” là một phần của dự án Quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học (VFBC) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ. Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển được chọn là một trong các đối tác địa phương hỗ trợ dự án thực hiện các hoạt động bảo tồn các loài động vật hoang dã thuộc nhóm ưu tiên của dự án VFBC.  Tiếp nối các hoạt động nâng cao năng lực cho cán bộ của Vũ Quang về bảo tồn linh trưởng và các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về động vật hoang dã và bảo tồn vượn, trong tháng 1 năm 2024, CCD đã phối hợp với Vườn Quốc gia Vũ Quang, thực hiện hoạt động điều tra quần thể vượn, đây là nỗ lực điều tra vượn một cách tổng thể đầu tiên được thực hiện trong Vườn quốc gia Vũ Quang. Để thực hiện chương trình điều tra, CCD đã phối hợp với Vườn quốc gia rà soát tổng thể các ghi nhận về vườn trước đây, đánh giá các tác động và chất lượng sinh cảnh tự nhiên từ đó thiết kế kế hoạch điều tra tổng thể nhằm đảm bảo các tuyến điều tra, điểm nghe phủ đều các khu vực phân bố của vượn. Trong đợt điều tra thực địa đầu tiên này, CCD đã điều tra trên 6 tuyến và 7 điểm nghe kết hợp giữa điều tra trực tiếp bằng máy ghi âm tự động và chuyên gia ngồi nghe trên các điểm. Đợt điều tra cũng nhằm kiểm chứng phương pháp và quy trình thu thập số liệu trên thực địa sau đó sẽ tiến hành điều tra đồng loạt mang tính hệ thống cho tất cả các khu vực trong vườn.  (từ trái sang phải)Hình 1. Cài đặt máy ghi âm độngHình 2. Tổng hợp số liệu điều tra tại lán©CCD/2024 Ngoài ra, các hoạt động trên hiện trường cũng giúp cán bộ của Vũ Quang áp dụng và thực hành những kiến thức tập huấn đã học vào thực tế, từ việc sử dụng các thiết bị, cách ghi chép, phân tích thông tin và quản lý dữ liệu. Qua đó, cán bộ và của Vườn có được các kinh nghiệm, kiến thức thực tế để thực hiện các chương trình điều tra, giám sát dài hạn cho Vượn và  các loài động vật nguy cấp khả ở vườn một cách hiệu quả.  Trong thời gian tới, CCD tiếp tục phối hợp với Vườn quốc gia Vũ Quang triển khai dự án bảo tồn Vượn đen má trắng, cũng như thực hiện các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực cho kiểm lâm, cán bộ của các Vườn về bảo tồn linh trưởng và các loài động vật nguy cấp khác. Ngoài các hoạt động ở Vũ Quang, CCD cũng sẽ tiếp tục các chương trình nghiên cứu, bảo tồn và phục hồi các loài động, thực vật nguy cấp khác ở các địa phương trong cả nước.

  • NÂNG CAO NĂNG LỰC BẢO TỒN VƯỢN TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG

    Trong tháng 01 năm 2024, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp Ban quản lý dự án (VFBC) tỉnh Hà Tĩnh/Vườn Quốc gia Vũ Quang tổ chức khóa tập huấn điều tra vượn cho các cán bộ của vườn quốc gia và kiểm lâm tại Vườn. Khóa tập huấn là một phần một phần của dự án “Bảo tồn loài Vượn đen má trắng  (Nomascus leucogenys)  tại Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh”, thuộc dự án Quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học (VFBC) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ từ năm 2023 đến 2024. Hình 1: Khóa tập huấn có sự tham gia của cán bộ và kiểm lâm tại Vườn quốc gia Vũ Quang ©CCD/2024 Khóa tập huấn tập trung bổ trợ kiến thức, kỹ năng điều tra, giám sát vượn trên thực địa, sử dụng các trang thiết bị nghiên cứu ngoài hiện trường và các kỹ năng phân tích, quản lý thông tin, xây dựng báo cáo. Các học viên và chuyên gia đã cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức, kỹ năng nghiên cứu thực địa, các kinh nghiệm nhận dạng, quan sát tập tính loài vượn và thú linh trưởng. Khóa tập huấn giúp các cán bộ kỹ thuật và và kiểm lâm của Vườn quốc gia Vũ Quang có được các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho việc xây dựng một hoạt động điều tra, giám sát và thực hiện các hoạt động đó trên hiện trường một cách hiệu quả nhất. Khóa tập huấn cũng giúp các cán bộ của Vũ Quang có được các thông tin cập nhật về các quy định của pháp luật Việt Nam với việc bảo vệ động vật hoang dã, đặc biệt là nhóm vượn, từ đó có các kế hoạch truyền thông, phổ biến các quy định đó tới cộng đồng, các bên liên quan nhằm ngăn chặn hiệu quả các vi phạm. Hình 2, 3: Các chuyên gia của CCD tại khóa tập huấn ©CCD/2024 Với sứ mệnh của mình, CCD đã và đang phối hợp với các vườn quốc gia/khu bảo tồn và các địa phương thực hiện các chương trình nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ và phục hồi các loài động, thực vật nguy cấp; thực hiện các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức, trách nhiệm nhằm bảo vệ hiệu quả và từng bước phục hồi thiên nhiên ở Việt Nam.

  • CHUẨN HÓA QUẢN LÝ DỮ LIỆU VÀ BÁO CÁO TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NAM NUNG

    Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung thuộc địa phận tỉnh Đắk Nông. Nam Nung là vùng đầu nguồn xung yếu của 2 sông lớn là Sông Đồng Nai và Sông Krong Nô với hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh. Khu bảo tồn cũng là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật hoang dã, loài đặc hữu của Việt Nam và vùng Đông dương. Nhằm nâng cao năng lực cho Khu bảo tồn để bảo vệ các hệ sinh thái rừng, giá trị đa dạng sinh học ở đây và tiến tới chuẩn khóa quy trình tuần tra, báo cáo của khu bảo tồn, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp cùng Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung tổ chức khóa tập huấn sử dụng bộ Công cụ Quản lý dữ liệu và Báo cáo tuần tra (SMART) cho hơn 30 cán bộ của Khu bảo tồn. Hình 1: Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung (©CCD/2023) Chương trình tập huấn chia thành 2 giai đoạn (i) chia sẻ tính năng của bộ công cụ và thiết kế mô hình dữ liệu theo nhu cầu quản lý của khu và các trạm bảo vệ rừng, (ii)  thiết lập các mẫu dữ liệu tuần tra, thu thập, quản lý dữ liệu, xây dựng báo cáo cho hệ thống SMART chung của khu. Trong chương trình tập huấn, cán bộ của Khu bảo tồn đã hoàn thành việc thiết lập mô hình dữ liệu, các tuyến, các phiếu thông tin trên các thiết bị thu thập dữ liệu cầm tay và điện thoại thông minh, thực hành trên thực địa với các phiếu và tuyến tuần tra đó sau đó nhập liệu, xử lý thông tin và truy xuất báo cáo. Qua chương trình tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật, CCD sẽ hỗ trợ Khu bảo tồn thiết lập một bộ cơ sở dữ liệu chuẩn, trong đó tích hợp các thông tin tuần tra, bảo vệ và các thông tin về đa dạng sinh học nhằm tiến tới chuẩn và đồng bộ hóa các hoạt động bảo vệ cũng như bảo tồn của khu trong một nền tảng quản lý và báo cáo chung. Hệ thống dữ liệu SMART sẽ giúp khu quản lý một cách hiệu quả các hoạt động bảo vệ, các dữ liệu về đa dạng sinh học, tác động để có các biện pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả nhất. Từ trái qua phải Hình 2: Hướng dẫn thực hành xây dựng mô hình dữ liệu và phiếu tuần tra (©CCD/2023) Hình 3: Thực hành công cụ SMART trên điện thoại thông minh (©CCD/2023) CCD sẽ tiếp tục phối hợp với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung cập nhật, hiệu chỉnh mô hình dữ liệu, các tuyến và phiếu tuần tra phù hợp nhất với mục tiêu quản lý và nhiệm vụ báo cáo của mình. CCD đã và đang nỗ lực hỗ trợ các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia và các chủ rừng chuẩn hóa hệ thống quản lý thông qua ứng dụng các công cụ và mô hình quản lý tiên tiến. Việc áp dụng đồng bộ các công cụ quản lý như SMART sẽ giúp nâng cao tính chính xác, minh bạch và hiệu quả quản lý, bảo tồn các loài, đa dạng sinh học trong các khu bảo vệ nói riêng và trong ngành lâm nghiệp nói chung.

  • NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG VÀ GIÁO DỤC BẢO TỒN CHO CÁN BỘ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG

    Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống có tổng diện tích hơn 46.400 ha, nằm trên địa giới hành chính của nhiều huyện và là một trong các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao ở tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, giá trị đa dạng sinh học vẫn bị đe dọa do thiếu sự hỗ trợ quan trọng của người dân vùng đệm khi họ vẫn đang phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Nhằm nâng cao nhận thức để giảm các tác động tới rừng và đa dạng sinh học, Khu bảo tồn đã thực hiện các hoạt động truyền thông và giáo dục môi trường (TT&GDMT) cho cộng đồng. Tuy nhiên, các hoạt động này chưa thật sự mang lại hiệu quả và thu hút người dân tham gia do thiếu nguồn lực và tính đa dạng. Thêm vào đó, một bất cập khác là cán bộ và nhân viên của Pù Huống ít được trau dồi các kỹ năng TT&GDMT trong lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện được các chương trình truyền thông hiệu quả. Nhằm khắc phục các bất cập đó và cũng là một phần trong chương trình nâng cao năng lực cho các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát Triển (CCD) đã phối hợp với Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống tổ chức chương trình tập huấn kỹ năng truyền thông, giáo dục môi trường cho cán bộ, nhân viên của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống. Chương trình tập huấn tập trung vào các vấn đề cơ bản của một chương trình TT&GDMT hiệu quả bao gồm việc thiết kế, lập kế hoạch, cách thức tổ chức thực hiện, duy trì và đánh giá hiệu quả trên thực tế. Đây là lần đầu tiên một chương trình tập huấn về TT&GDMT được thực hiện tại Khu BTTN Pù Huống. Bên cạnh việc tổ chức tập huấn cho cán bộ, nhân viên, CCD cũng đã hỗ trợ Khu bảo tồn lập kế hoạch, tổ chức chương trình truyền thông về bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên cho người dân của 9 xã vùng đệm của Pù Huống. Chương trình truyền thông sẽ giúp nâng cao kiến thức và trách nhiệm của cộng đồng với các nỗ lực bảo vệ, phục hồi rừng và đa dạng sinh học tại địa phương. Hoạt động truyền thông tại cộng đồng còn nhằm mục đích giúp các kiểm lâm và cán bộ của Pù Huống nắm bắt và áp dụng có hiệu quả các   các kiến thức và kỹ năng được tập huấn vào việc thực hiện chương trình và sự kiện truyền thông trong thực tế ở địa phương và các thôn, bản vùng đệm. Với sứ mệnh của mình, CCD đã và tiếp tục hỗ trợ các đối tác ở địa phương, các ban quản lý rừng phòng hộ, khu bảo tồn, vườn quốc gia nâng cao năng lực của các bộ, tăng cường hiệu quả quản lý và thực hiện các chương trình bảo tồn và truyền thông hiệu quả. Bên cạnh các nỗ lực quản lý, tuần tra hiệu quả, các hoạt động truyền thông sẽ rất quan trọng giúp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của công chúng với các nỗ lực bảo vệ, phục hồi tự nhiên và bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam.

  • CHUNG TAY VỚI KHỐI DOANH NGHIỆP TRONG CÁC NỖ LỰC TRỒNG CÂY, PHỤC HỒI RỪNG VÀ CÁC VÙNG SINH CẢNH TỰ NHIÊN

    Ngày 26/10, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp với Công ty Cổ phần SMEC Việt Nam và Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh trồng 300 cây thuộc nhóm gỗ lớn nhằm góp phần phục hồi rừng và nâng cao giá trị đa dạng sinh học và phòng hộ đầu nguồn. Việc trồng các cây gỗ lớn, loài bản địa cũng góp phần phục hồi sinh cảnh tự nhiên là nơi sống của nhiều loài động, thực vật hoang dã ở địa phương, góp phần nâng cao độ che phủ, điều hòa không khí, ứng phó với thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu.  Từ trái qua phải:Hình 1: Chung tay trồng, bảo vệ rừng và đa dạng sinh học!Hình 2: Có một cây là có rừng!@CCD/2023 Trong nỗ lực chung về trồng rừng, phục hồi các sinh cảnh tự nhiên ở khắp các vùng trong cả nước, CCD đang hợp tác với các cá nhân, tập thể, khối doanh nghiệp thực hiện các hoạt động trồng cây, gây rừng. Các hoạt động trồng cây cũng là một phần trong Chương trình Tăng cường nhận thức và Trách nhiệm của công chúng về bảo tồn đa dạng sinh học, chống suy thoái và mất rừng tại Việt Nam mà CCD đang thực hiện trong sốt 5 năm qua và trong thời gian tới. Hình 3: Chung tay trồng và phục hồi rừng vì MỘT VIỆT NAM XANH!@CCD/2023

  • THÚC ĐẨY SỐ HÓA TRONG QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG TẠI TỈNH THANH HÓA

    Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên là vùng đầu nguồn sông Chu thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Khu bảo tồn được biết đến là một trong các khu vực có tính đa dạng sinh học cao và là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật đặc hữu, nguy cấp như Vượn bạc má (Nomascus leucogenys) , Voọc xám ( Trachypithecus phayrei) , Mang pù hoạt ( Muntiacus rooseveltorum); Sa mu dầu (Cunninghamia konishii ); Vù hương ( Cinnamomum balansae )... và nhiều loài động, thực vật quý hiếm khác.  Là một khu bảo tồn có giá trị đa dạng sinh học cao bậc nhất ở các tỉnh phía Bắc, tuy nhiên Xuân Liên chỉ có 33 cán bộ gồm cả hành chính và cán bộ làm công tác bảo vệ rừng. Sự chênh lệch giữa số lượng cán bộ và diện tích rừng phải quản lý đang là một khó khăn không chỉ của Xuân Liên mà của nhiều ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ khác, do đó ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý giám sát rừng, đa dạng sinh học, và ngăn chặn vi phạm,... Để hỗ trợ các ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ trong việc nâng cao hiệu quả quản lý và ứng dụng công nghệ trong việc giám sát rừng, đa dạng sinh học, và chuẩn hóa hệ thống tuần tra, báo cáo, bộ công cụ SMART và ứng dụng Giám sát rừng toàn cầu (GFW) đã được áp dụng cho ban quản lý khu bảo tồn Xuân Liên và Ban quản lý Rừng phòng hộ Thường Xuân và các nhóm tuần tra cộng đồng của hai ban quản lý. Việc áp dụng công cụ SMART và GFW sẽ giúp nâng cao hiệu quả tuần tra, thu thập và quản lý thông tin một cách đồng bộ giữa Kiểm lâm, Cán bộ bảo vệ rừng chuyên trách và các nhóm tuần tra cộng đồng. Từ đó giúp cho công tác lập kế hoạch quản lý các trạm, các tổ nhóm tuần tra rừng cộng đồng cũng như hoạt động quản lý thông tin và báo cáo trở nên dễ dàng hơn.  từ trái sang phải:Hình 1: Tập huấn cho các cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Thường Xuân về ứng dụng SMART và GFWHình 2: Tập huấn cho các tổ tuần rừng cộng đồng về ứng dụng GFW và SMART(©CCD/2023) Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp với Xuân Liên và Ban quản lý Rừng phòng hộ Thường Xuân tổ chức các khóa tập huấn về ứng dụng SMART và giới thiệu ứng dụng GFW trong tháng 3, 4 năm 2023. Các lớp tập huấn có sự tham gia của các tổ tuần tra cộng đồng từ 7 xã vùng đệm của Xuân Liên và cán bộ đến từ 6 trạm quản lý và bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Thường Xuân. Cũng trong chương trình hỗ trợ kỹ thuật này, CCD đã hỗ trợ xây dựng và hoàn thiện mô hình dữ liệu SMART chuẩn cho Xuân Liên và Ban quản lý Rừng phòng hộ Thường Xuân. Các trạm kiểm lâm, tổ bảo vệ rừng chuyên trách và nhóm tuần tra cộng đồng cũng đã được trang bị máy tính bảng để hỗ trợ công tác thu thập dữ liệu trong quá trình tuần tra. Hình 3: Các buổi tập huấn có sự phối hợp giữa lý thuyết và thực hành trên thực địa (©CCD/2023) Để hỗ trợ triển khai hiệu quả, CCD sẽ tiếp tục các hoạt động tập huấn nhắc lại, hỗ trợ trợ các ban hoàn thiện mô hình dữ liệu, các mẫu báo cáo và tham gia tuần tra định kỳ với các trạm, nhóm tuần tra cộng đồng để hướng dẫn thu thập thông tin theo đúng quy trình tuần tra. Việc số hóa và áp dụng công nghệ cải thiện đáng kể công tác quản lý rừng, hệ thống báo cáo và nâng cao được việc quản lý công việc của các trạm, đội và nhóm tuần tra. CCD sẽ tiếp tục hỗ trợ các khu bảo tồn, ban quản lý rừng đặc dụng ở tỉnh Thanh Hóa và các khu trong cả nước để nâng cao năng lực quản lý , ứng dụng các công cụ tuần tra, giám sát hiệu quả, thúc đẩy sự tham gia hiệu quả của cộng đồng trong nỗ lực bảo vệ rừng và đa dạng sinh học.

  • NGHIÊN CỨU VÀ BẢO TỒN CÁC LOÀI CU LI Ở RỪNG KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

    Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi ở huyện Kim Bảng có diện tích hơn 3.000 ha, đây cũng là diện tích rừng tự nhiên duy nhất còn lại ở tỉnh Hà Nam. Rừng Kim Bảng cũng là nơi phân bố của quần thể Vọoc mông trắng ( Trachypithecus delacouri ) quan trọng thứ 2 và còn là sinh cảnh phân bố của nhiều loài linh trưởng nguy cấp, quý, hiếm, trong đó có các loài Cu li ( Lorisidae spp.) . Cu li cũng là nhóm linh trưởng đang đổi mặt với nguy cơ tuyệt chủng do mất nơi sống và săn bắt, nhưng chúng lại là nhóm ít được nghiên cứu và bảo vệ. Rừng Kim Bảng là nơi phân bố tự nhiên của hai loài Cu li lớn và Cu li nhỏ, tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về hiện trạng quần thể và các mối đe dọa cho các loài này ở đây. Do đó, chưa có các hoạt động bảo tồn nào được thực hiện cho các loài linh trưởng nguy cấp này ở Kim Bảng. (từ trái sang phải)Hình 1: Sinh cảnh tại nơi ghi nhận Cu liHình 2: Hoạt động lập tuyến điều tra đêm(ảnh: CCD) Trong năm 2022 và 2023, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp với Hạt kiểm lâm liên huyện Kim Bảng - Thanh Liêm thực hiện các hoạt động điều tra, nghiên cứu về hiện trạng quần thể và xác định các cơ hội bảo tồn các loài Cu li ở đây, kết quả nghiên cứu cũng giúp cơ quan kiểm lâm địa phương có được các thông tin cần thiết để lập các kế hoạch quản l ‎ y, bảo tồn các loài Cu li cũng như các giá trị đa dạng sinh học ở Kim Bảng. Hoạt động điều tra mới chỉ ghi nhận được loài Cu li nhỏ ( Xanthonycticebus pygmaeus ) ở một số khu vực trong rừng Kim Bảng. Thông tin về loài Cu li lớn ( Nycticebus bengalensis ) chỉ ghi nhận qua phỏng vấn, có thể loài Cu li lớn đã trở nên rất hiếm hoặc gần như không còn ghi nhận ở Kim Bảng cũng như các khu vực khác ở phía Bắc nơi mà CCD cũng có các hoạt động điều tra các loài linh trưởng và nhóm Cu li. Việc chưa ghi nhận được loài Cu li lớn ở Kim Bảng cũng như nhiều khu vực khác cho thấy tín hiệu đáng lo ngại về quẩn thể tự nhiên của loài Cu li lớn, do đó cần có thêm các nghiên cứu nhằm tìm hiều các nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm quần thể của loài này. (từ trái sang phải)Hình 3: Cá thể Cu li nhỏ đầu tiên được ghi nhậnHình 4: Cá thể Cu li nhỏ thứ hai được ghi nhận(ảnh: CCD) Trong thời gian tới, CCD tiếp tục phối hợp với Kim Bảng và địa phương khác để điều tra quần thể của các loài Cu li cũng như thực hiện các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực cho kiểm lâm, cán bộ  của các khu bảo tồn về nghiên cứu, bảo tồn các loài linh trưởng và động vật hoang dã nguy cấp.

  • NÂNG CAO KỸ NĂNG GIÁO DỤC, TRUYỀN THÔNG CHO VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN

    Kiểm lâm là lực lượng chủ đạo trong công tác thanh tra, kiểm tra và bảo vệ rừng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, bên cạnh việc tuần tra, kiểm tra, các cán bộ Kiểm lâm còn đảm nhận thực hiện các hoạt động truyền thông, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thay đổi thái độ, hành vi của cộng đồng trong vấn đề bảo vệ rừng và đa dạng sinh học. Truyền thông và giáo dục môi trường (TT&GDMT) nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và thay đổi hành vi là các hoạt động cần thực hiện thường xuyên và lâu dài, đòi hỏi tính thích ứng và sáng tạo cao nhằm đưa các thông điệp tới với công chúng và cộng đồng. Tuy nhiên, phần lớn các cán bộ của Cát Tiên lại thiếu các kiến thức về truyền thông và giáo dục môi trường, các kiến thức và kỹ năng mà cán bộ của các Vườn quốc gia được đào tạo chủ yếu về lĩnh vực lâm nghiệp. Do đó, các hoạt động truyền thông mặc dù vẫn được thực hiện xong chưa đạt hiệu quả cao. (từ trái sang phải)Hình 1: Đại diện các nhóm trình bày kết quả phân tích thực trạng truyền thông và giáo dục môi trường ở Cát TiênHình 2: Kết quả thảo luận được định hướng và phân tích bởi các chuyên gia CCD(ảnh: CCD) Với mục nâng cao kiến thức và kỹ năng cho cán bộ của Cát Tiên về TT&GDMT, đầu năm 2023, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp với Vườn quốc gia Cát Tiên tổ chức 02 khóa tập huấn về  kỹ năng TT&GDMT cho kiểm lâm và các cán bộ của Vườn. Khóa tập huấn tập trung vào giới thiệu các khái niệm về TT&GDMT, các kỹ năng và phương thức truyền thông phổ biến, hiệu quả, cách xây dựng chiến lược, kế hoạch, các sự kiện truyền thông cho công chúng, cho cộng đồng. Khóa tập huấn giúp bù đắp các khoảng trống về kiến thức, kỹ năng cho các cán bộ của Cát Tiên mà còn giúp họ xây dựng và tự thực hiện các chiến dịch truyền thông, các hoạt động truyên truyền và tiếp cận cộng đồng hiệu quả và thiết thực hơn. (từ trái sang phải)Hình 3: Quá trình thảo luận được hỗ trợ và thúc đẩy bởi nhóm chuyên gia của CCDHình 4: Các cán bộ và kiểm lâm Cát Tiên được thực hành lập kế hoạch truyền thông và giáo dục với các loài hoang dã nguy cấp tại Vườn(ảnh: CCD) Với những hoạt động và kinh nghiệm thực hiện hoạt động TT&GDMT đã và đang được thực hiện ở nhiều địa phương trên cả nước, CCD chia sẻ và thúc đẩy các hoạt động tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ của các vườn quốc gia, khu bảo tồn thông qua chia sẻ kinh nghiệm, tài liệu để các đối tác xây dựng kế hoạch và thực hiện các hoạt động TT&GDMT hiệu quả hơn. Từ đó, CCD và đối tác có khả năng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của công chúng, của người dân về sự cần thiết của các hoạt động bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ các giá trị đa dạng sinh học. (từ trái sang phải)Hình 5: Các cán bộ và kiểm lâm Cát Tiên được thực hành lập kế hoạch tổ chức các hoạt động truyền thông và giáo dục cụ thể với các cộng đồng vùng đệmHình 6: Các cán bộ và kiểm lâm Cát Tiên được thực hành lập kế hoạch truyền thông và giáo dục trong các buổi họp thôn bản tại các cộng đồng vùng đệm

  • Tái phát hiện sự tồn tại của Voọc mông trắng ở Rừng đặc dụng Hương Sơn, Hà Nội

    Sau nhiều năm tìm kiếm Voọc mông trắng ở những vùng phân bố cũ, nơi loài này đã được coi là tuyệt chủng, cuối cùng các chuyên gia của Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã tìm thấy một đàn Voọc mông trắng với ít nhất 5 cá thể (bao gồm 1 con non) vẫn còn sót lại ở Rừng đặc dụng Hương Sơn, Hà Nội vào những tháng cuối cùng của năm 2022. Điều này đã mở ra cơ hội cho việc giao thoa giữa các quần thể Voọc mông trắng với nhau ở Vân Long (Ninh Bình), Kim Bảng (Hà Nam), Lạc Thủy (Hòa Bình) và Hương Sơn (Hà Nội) thông qua việc kết nối các sinh cảnh manh mún thành một cảnh quan rộng lớn và an toàn cho sự phát triển của loài này. Hình ảnh đầu tiên về loài Voọc mông trắng tại Rừng đặc dụng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội(nguồn: Đề án "Bảo tồn, phát triển các loài động vật, thực vật hoang dã có nguồn gen quý hiếm trên địa bàn thành phố Hà Nội") Voọc mông trắng ( Trachypithecus delacouri ) là loài linh trưởng chỉ có ở Việt Nam. Loài này có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và được xếp vào mức "Cực kỳ nguy cấp/CR" trong Danh lục đỏ của IUCN cũng như Sách đỏ của Việt Nam. Sinh cảnh sống của Voọc mông trắng là các khu rừng thường xanh trên dãy núi đá vôi chạy từ Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình đến Thanh Hóa.Trước đây, Voọc mông trắng được ghi nhận ở 19 địa điểm thuộc 5 tỉnh nói trên, tuy nhiên, do bị săn bắn trái phép và mất sinh cảnh sống nên quần thể Voọc mông trắng đã bị suy giảm nghiêm trọng và biến mất ở nhiều nơi. Hiện tại, theo ước tính, Voọc mông trắng chỉ còn tồn tại ở 4 - 5 địa điểm với tổng số cá thể dưới 400 con. Báo Nhân Dân đã có bài viết chi tiết về quá trình điều tra và phát hiện loài linh trưởng đang bị đe dọa ở mức Cực kỳ nguy cấp này. Chi tiết bài viết bên dưới https://nhandan.vn/theo-dau-vet-vooc-quy-hiem-ngay-giua-ha-noi-post732728.html

aaf000_bf92c7ebda894418bd662a1acc6dc72b~mv2.avif

Hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, kết nối con người với thiên nhiên!

TRUNG TÂM BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN

Số 5, ngách 56/119, ngõ 56 Tứ Liên, phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội
Điện thoại: +84 (0) 246 682 0486
Email: info@ccd.org.vn

@2026 CCD. ALL RIGHTS RESERVED 

Giờ làm việc

8:00 - 17:30

Thứ 2 - Thứ 6

Theo dõi chúng tôi tại

  • Facebook
  • LinkedIn
  • Youtube
bottom of page